Biểu tượng thuyền Ahòq trong tín ngưỡng của tộc người Raglai ở Khánh Hoà
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|
ThS.Trần Kiêm Hoàng
Tộc người Raglai ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai- Đa Đảo (Chăm, Churu, Ê Đê, Raglai, Gia rai). Ở Khánh Hòa, so với các tộc người thiểu số khác, người Raglai có số dân đông nhất, chiếm tỷ lệ 3,4% dân số toàn tỉnh. Người Raglai sinh sống tập trung tại hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh và rải rác ở các huyện Diên Khánh, Cam Lâm, Ninh Hòa, thị xã Cam Ranh. Trong văn hóa Raglai, yếu tố biển trầm tích, tương hỗ với yếu tố núi rừng chủ đạo, tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của tộc người này. Một trong các biểu tượng yếu tố biển đó là ahòq…
Biển trong tín ngưỡng của người Raglai ở Khánh Hòa
Tín ngưỡng bản địa của người Raglai là tín ngưỡng đa thần hay còn gọi là tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh” (Animism), nghĩa là tất cả sự vật, hiện tượng tự nhiên nhân tạo đều có linh hồn, có thần linh là Yàc cai quản.
Người Raglai quan niệm chung quanh họ hiện hữu ba thế giới: thế giới ông bà, thế giới trần gian và thế giới thần linh. Thế giới trần gian là thế giới của con người, thế giới ông bà là của tổ tiên (Cơi Mỏq). Hai thế giới trần gian và ông bà tách biệt bởi cái chết (matai) của con người. Con người và ông bà chỉ sinh sống ở tầng mặt đất. Người Raglai quan niệm tại thế giới của mình, ông bà cũng phải làm nương rẫy, cũng sinh hoạt như con người nhưng hoàn toàn trái ngược với thế giới trần gian. Bên này là xấu, bên kia là đẹp, bên này là ngắn, bên kia là dài… Vì vậy có tục khi chia của cải cho người chết về với thế giới ông bà thì ché phải đập bể, chiêng, mala phải đập cho biến dạng, trái cau, quả trứng gà là con gà, con heo; lá chuối là ruộng, là rẫy nương…
Đối với thế giới thần linh lại khác hẳn. Thần linh cư ngụ hết các cõi trần gian và ông bà, từ tầng trên trời, tầng mặt đất đến tầng dưới mặt đất. Ở thế giới trần gian có các thần ở các tầng trên trời đứng đầu là thần Mặt Trời (Putau ia huruơi), thần Mặt Trăng (Ia Vila), thần Tinh tú (Ia Pitùq), thần Mưa, sấm sét (saganã), chúa mẫu Không trung (Via Lawah), thần Sấm (Ru-uh ru-am grơm catal), thần chúa mẫu Lửa không gian (Saganã Via Lùc); quanh mặt trời có thần Rồng giữ cửa mặt trời (Putau samagrãh muvãh nàc jàc ia huruơi hay còn gọi là Samagrãh samagrỉt rìq digơi)…; Tầng mặt đất có các thần sông, biển (putau Tuwaq, yàc ia), thần Rừng (Yàc Dlai), thần Núi (Yàc Chưq), đủ các loại thần xung quanh họ từ trong nhà ra đến rẫy nương…; tầng dưới mặt đất đứng đầu là thần Lửa thiêng lòng đất (Putau Longca Longgadir ), thần Mãng xà (Ching tar inã garai),… Đối với thế giới ông bà cũng chia làm 3 tầng: Tầng trên trời là Thượng đế (Aluah); tầng mặt đất là ông bà tổ tiên của họ đang sống và tầng dưới mặt đất là nơi ở của quỷ sứ (Vhùq kray).
Từ thế giới trần gian sang thế giới của ông bà có một vách ngăn, muốn qua cửa vách ngăn này người chết phải được những người thân trong gia đình làm lễ dứt đứt lễ bỏ ma (vidhi atơu). Khi con người đã chết, nếu chưa được làm lễ bỏ ma, hồn người chết vẫn có thể qua lại từ cõi chết và người sống vẫn phải thăm nom, giỗ cúng cho người chết. Do đó vách ngăn này “dày hay mỏng” là do thời gian người sống làm lễ dứt đứt cho người chết sớm hay muộn. Nếu người mới chết vừa làm lễ tang đã làm luôn lễ bỏ ma thì vách ngăn này gần như không có. Từ thế giới trần gian người chết trở về ngay thế giới của ông bà tổ tiên để chờ đầu thai trở lại kiếp khác.
Thế giới quan của người Raglai được minh họa như sau:

Núi rừng có chúa nhang rừng (yàc dlai), chúa nhang núi (yàc chưq) hiền lành độ trì cho người Raglai trong việc khai thác, trồng trọt, săn bắn, chăn nuôi…
Biển cũng có chúa nhang biển (yàc tasìq), người Raglai tin tưởng vị thần này luôn giúp đỡ họ mỗi chuyến trở về miền xuôi buôn bán, trao đổi với người Chăm, người Kinh. Biển được người Raglai sùng bái và đưa vào hệ thống thần linh của mình qua các vị thần Vua thần sông biển, tổ mẫu thần rửa trôi những dơ bẩn tội lỗi (Putau tuwaq, inã vròc), Vua thần nước tổ mẫu nuôi dưỡng vạn vật sinh sôi (Putau Ia inã chai).
Trước rừng núi bí hiểm, người Raglai luôn nơm nớp thần độc salah, ó malai trong rừng trên núi ám hại sinh ra bệnh tật. Với biển người Raglai vẫn tin có những vị thần đang ngự trị để trừng trị khi họ mắc tội loạn luân (arih agap), đó là Chúa thần bà khổng lồ, chúa thần thấp lùn, vua thần độc chém bổ như nước (Cơi pu vuriap pumủq viriơm, putau salah vlah riya).
Trong các sử thi, truyện cổ Raglai, những vị thần ở cả 6 tầng cùng tham gia các cuộc chiến tranh, tạo ra cảnh máu chảy thành sông, xác chết nghẹt cả cửa biển. Hầu hết trong những câu chuyện được kể lại các thần rừng tập hợp với nhau thành một lực lượng hùng hậu để đối kháng với nhân vật anh hùng Raglai. Những vị thần tầng dưới mặt đất (Putau Longca Longgadir, Ching tar inã garai…), thần linh ở tầng trời (putau Ia huruơi, Ia vilàt, Grưm…) chỉ dừng ở các cuộc hôn nhân giữa con trai, con gái của mình với nhân vật anh hùng Raglai. Riêng thần Biển không chỉ cho con gái, con trai mình trở thành con dâu, con rể mà còn đích thân hoặc cho các hoàng tử cùng binh tôm tướng cá kéo quân đến giúp trong các trận chiến. Hơn thế nữa, chỉ có thần biển mới giúp cho người anh hùng cùng với đoàn quân của họ tẩy rửa tị hiềm hãm hại sau các cuộc chiến đẫm máu, hay sau những nguy nan, gột sạch những hàm oan tưởng khi cả palơi, hay chính người thân dị nghị…
Trong giấc ngủ, ngoài những giấc mơ liên quan đến rừng núi như đi lạc vào rừng sâu, bị hổ vồ, ngã xuống suối… người Raglai còn có những giấc mơ mang dấu ấn về biển:
Họ cho rằng khi mơ thấy bơi sông to biển lớn là điềm báo có sự chẳng lành sắp xảy đến với bản thân hoặc gia đình, thậm chí có thể vi phạm vào những điều cấm kỵ của luật tục;
Mơ thấy mình tắm, giặt váy áo nơi con suối, dưới thác đổ có nghĩa là đã đến lúc hấp hối, chuẩn bị matai (chết) đến nơi;
Mơ thấy mình lội qua con sông lớn, con suối to chảy xiết, người Raglai tin rằng mình sẽ vượt qua được khó khăn, chiến thắng những vụ kiện với người khác, tin tưởng sẽ được sống thêm nhiều mùa rẫy, nhiều con trăng;
Mơ vượt qua biển lớn sông to thì mọi việc trong nhà sẽ bình an mọi chuyện; trong nhà sẽ có nhiều mặt mala, nhiều trâu bò, lợn gà khi mơ thấy mình lặn xuống vũng sâu, lặn xuống biển…
Đêm nằm mơ thấy uống rượu cần, rượu trắng ắt trời sẽ đổ mưa; uống rượu để cho say li bì là trời sẽ làm lụt lội hay mưa dầm nước biển sẽ dâng lên.
Nằm mơ được uống rượu nước cốt đầu ngọt lịm của rượu cần hay rượu thơm nồng của rượu nồi đồng cất, rượu trắng ắt sẽ có cơn mưa đầu mùa để trồng trọt (hujàt akoq kroh voh payàt).
Hầu hết người Raglai chúng tôi đã phỏng vấn[1] ở các huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, thị xã Cam Ranh đều tin ở nơi gốc biển chân trời có tổ tiên xưa của mình là Cơi Masrĩh - Mỏq Vila. Hai vị thần lão tổ này đang ngày đêm giúp cho người Raglai tránh nạn hồng thuỷ ngày nào vì tội lỗi của con cháu dòng đời trần gian[2] (cayua adam). Hàng năm vào tháng ba, khi có sương mù bốc cao trên các đỉnh núi, người Raglai cho rằng đó là lúc hai vị thần tổ của mình đang đốt dọn những rác rưởi dơ bẩn do tội lỗi con cháu tạo ra. Cũng chính nhờ hai vị thần này người Raglai mới tồn tại và phát triển được như ngày nay.
Ahòq trong nghi lễ của người Raglai
Theo khảo sát và thống kê của chúng tôi, hầu hết các nghi lễ vòng đời của người Raglai đều có một vật gần như không thể thiếu, đó là ahòq (con tàu). Riêng trong nghi lễ nông nghiệp của người Raglai ahòq chỉ xuất hiện ở một số lễ quan trọng như: Lễ cúng thần núi, thần rừng được tổ chức ba năm một lần nhỏ, bảy năm một lần lớn; lễ mừng lúa mới (bơc kakìq) được tổ chức hàng năm sau khi bắp lúa đã về kho.
Biển lớn là nơi tận cùng của trời đất, là nơi ở của ông bà tổ tiên. Thế giới này khác hẳn với địa ngục dưới các tầng đất, khác hẳn cõi ma. Biển sẽ mang mọi điều tốt lành đến cho họ. Khi trong nhà có người chết vì tai nạn, vì cọp vồ hay bất kỳ cái chết nào của người thân mà không phải là chết bệnh, chết già trong nhà, người Raglai đều phải làm con bè chuối trên đó đặt vôi ăn trầu, trứng gà, rượu thả xuôi con nước về biển để (báo) ông bà phù hộ cho mọi người trong nhà không còn vướng phải trường hợp như vậy nữa.
Thần linh các tầng có thể mang lại phúc lành hay gieo họa cho người Raglai nhưng cũng chỉ dừng lại ở thế giới trần gian chứ không thể giúp họ tạ ơn tổ tiên ông bà. Thần rừng, thần núi không cởi bỏ được sự ám hại truyền đời khi trong nhà có người bị cây đè, hổ vồ; không thể giúp đứa bé mới sinh trong gia đình hết malơu mata (mắc cỡ) khi phải đầu thai làm kiếp con cháu trong nhà… Trong tín ngưỡng của người Raglai chỉ có thần biển mới giải quyết những tai ương, họa kiếp. Thông qua thần Biển lễ vật trên các con tàu ahòq được chuyển đến tổ tiên, ông bà hay các vị thần linh trong lễ tạ ơn. Thần biển còn mang cả linh hồn của họ sau khi chết về xứ sở của ông bà trên chiếc thuyền đưa linh kagor.
Từ thế giới của mình, các thần Biển bước ra ngao du khắp các cõi để giúp con cháu Raglai trần gian theo những lời cầu khấn trong nghi lễ vòng đời. Trong đời sống tâm linh, ứng với tâm lý vừa sợ sệt, vừa mong muốn sự ban ơn của thần linh, người Raglai đã hình thành nên hệ thống tín ngưỡng và kèm theo đó là hệ thống nghi lễ. Mọi phong tục, tập quán của người Raglai thường được thể hiện tập trung ở hệ thống lễ hội dân gian dày dặc suốt trong năm và rộ lên ở mùa ăn năm, uống tháng, diễn ra ở mùa khô (từ tháng 11 dương lịch năm này tới hết tháng 3 năm sau). Những lễ hội dân gian đó, quy tụ về 3 trục chính: nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ vòng đời người và những sự việc xung quanh vận mệnh của cộng đồng.
Nghi lễ vòng đời người là nghi lễ mà gia đình, tộc họ, cộng đồng thực hiện cho mỗi con người. Vì vậy, nghi lễ vòng đời không chỉ liên quan đến một con người, mà liên quan đến cả cộng đồng. Nghi lễ vòng đời người thể hiện sự lo lắng, chăm sóc lẫn nhau để bảo toàn giống nòi và bảo toàn xã hội.
Người Raglai từ lúc sinh ra đến lúc được người thân làm lễ bỏ ma có rất nhiều lễ: lễ khai sinh, đặt tên (Va vruh , Pacheq lingĩa palaya anan), cải sanh (Vlưq ghuơr (Sưq)), tạ ơn (Sa-ùq aluah), lễ cưới trang trọng (Huaq vu) hay lễ cưới phạt (Cacah richo), lễ tách nhà (Tlãh sàc), lễ đền ơn đáp nghĩa (Ia tisơu vilơu dada) , lễ bỏ ma (Vidhi atơu)…
Trong các cuộc lễ cải sanh (Vlưq ghuơr/Sưq), lễ tạ ơn (Sa-ùq aluah) của người Raglai hiện nay vẫn phổ biến việc làm các ahòq bằng thân cây chuối. Quan sát những cuộc lễ của họ, trên ahòq thường được bày một hay ba cái ly (ly là một đốt lồ ô được cắt ra khoảng 5- 6 cm tạo thành) rượu trắng (alac) hay rượu cần (tapai), vài miếng trầu cau (pinang linữq), có thể để thêm thịt (ralo), cơm (vu) ở trên mặt… Sau khi làm nhang[3] xong (phần nghi lễ), ahòq được người Raglai mang ra để ở sông, bờ suối, hoặc thả cho trôi theo dòng nước đối với các lễ cầu an, cầu được mùa, tạ ơn. Với các lễ cúng thần lửa, thần ác, ó malai, ahòq được đưa ra để ở bìa rừng, bìa rẫy. Cá biệt cũng có nơi người Raglai chỉ đưa ra ahòq để bên cạnh nhà nhưng phải về phía tây, mũi con tàu quay về hướng đông, hướng của biển lớn, hướng của các con sông đổ về.
Khi đi điền dã ở xã Thành Sơn huyện Khánh Sơn tỉnh Khánh Hoà, chúng tôi đã được già làng Pinãng Xà Buôn cho biết khi trong nhà có người bị tai nạn hay chết do nguyên nhân nào đó mà không phải do già yếu… họ đều làm ahòq thả xuống suối cùng với lễ vật để cầu mong yàc đừng làm hại người khác trong gia đình. Con tàu sẽ chở lễ vật xuôi về biển, về với ông bà (?) để chứng minh cho lòng thành của họ.
Ahòq không chỉ là vỏ vật chất trong đời sống tín ngưỡng của người Raglai mà còn được thể hiện trong một số bài cúng lên đồng của thầy cati, thầy vijơu, qua lời bái xái của chủ nhang. Ahòq trong khi lên đồng còn thêm chức năng nữa là chở vijơu đến xứ sở thần linh để cầu xin phù hộ cho gia chủ:
“…Xứ sở trần gian thờ mệnh
Xứ sở có tàu thần trắng.
Tụi tui đi bằng con tàu trắng
Chớp mắt đã đến nơi..”
Các lễ vật để cúng trên các ahòq tuy chỉ là tượng trưng nhưng người Raglai vẫn tin tưởng chính các con tàu đó sẽ về đến thế giới biển trời xa xăm, đến thế giới của tổ tiên, của ông bà. Nhận được lễ vật chắn chắn ông bà tổ tiên sẽ giúp đỡ, che chở cho họ có một cuộc sống yên lành.
Phân chia theo kỹ thuật thực hiện, có thể chia ahòq của người Raglai thành 4 kiểu chính:
Kiểu thứ nhất: Con tàu hai tầng (ahòq lơu)
Người Raglai dùng nhiều đoạn thân chuối có đường kính 5-6 cm tạo thành chiếc bè hình chữ nhật có chu vi 50cm x 75cm, tiếp tục dùng bẹ chuối còn tươi ép viền chung quanh chiếc bè để làm vỏ tàu, đường diềm này có chiều cao chừng 10 đến 15cm. Trên mặt bè dựng mô hình một căn nhà lầu bằng tre, tầng trệt là mặt chiếc bè, một tầng lầu, phía trên có mái bằng. Từ tầng dưới lên tầng trên có cầu thang bằng khúc cây nhỏ khoét các nấc như cầu thanh lên nhà rông ở Tây Nguyên. Chính giữa mái bằng vươn lên cao là một cây giáo được trau chuốt rất đẹp, gốc cây giáo đặt trên nền bè. Đây chính là vavùc, là vũ khí chống lại các lực lượng thần độc, ó malai quấy phá, bảo vệ con tàu và các lễ vật đi đến xứ sở của ông bà.
Kiểu thứ hai: Con tàu có mái nhà (ahòq vidhùc)
Cấu tạo không khác gì kiểu thứ nhất nhưng thay vì căn nhà trên bè có lầu, ở đây không có. Bốn góc có bốn cột buồm đơn đứng thẳng. Giữa tàu là cột buồm cao nhất. Các cánh buồm làm bằng lá chuối, cắt thành hình dích dắc có kích thước chiều ngang 4 đến 5cm, cao 8 đến 10cm treo thẳng đứng trên đầu các cột buồm.
Kiểu thứ ba: Con tàu thông thường (ahòq rah rai)
Theo quan niệm cổ, các con tàu này là lễ vật dành cho các nhang độc, ó ma lai để tránh việc các thần độc này quấy phá làm ảnh hưởng đến ahòq chính. Ở kiểu này vẫn chia làm hai loại hình thuyền và loại hình chữ nhật (hoặc hình vuông).
a. Loại hình thuyền (galai):
Vật liệu vẫn chỉ là bè bằng thân cây chuối có đường kính 4 đến 5cm, mặt bè không phải là hình chữ nhật như hai kiểu trên mà được làm theo hình dáng thuẫn như thuyền thật. Hai đầu thuyền không có góc mà bo tròn, mỗi đầu có một cột buồm. Chính giữa có cột buồm cao nhất, lớn nhất.
b. Loại hình chữ nhật (hoặc hình vuông):
Vật liệu cũng như các loại trên nhưng kích thước nhỏ hơn. Mặt bè có thể là hình chữ nhật có chu vi dao động từ 20 x 30 cm đến 45 x 60 cm. Bốn góc có bốn cột buồm cao và được lá chuối cắt răng cưa bản 3 đến 5cm treo rủ từ đỉnh cột xuống đến mặt bè. Chung quanh các cột buồm ở mỗi góc có các thanh nứa uốn vòng làm vòm, chính giữa là cột buồm cao và to hơn hẳn bốn cột góc.
Kiểu thứ tư: Mô hình kagor /kagau trên mái nhà mồ
Trong lúc sống, họ ở trong nhà dài tổ mẫu là con thuyền úp chụp, đến lúc từ giã cuộc đời người Raglai được con thuyền Kagor/ kagau trên mái nhà mồ cũng làm bằng vật liệu lấy từ rừng đưa về thế giới của ông bà sau lễ hội bỏ ma.
Chịu ảnh hưởng cơ tầng của văn hóa Đông Nam Á, người Raglai cũng có quan niệm “sống gửi thác về” như các tộc người khác. Sau khi chết, được người thân làm lễ bỏ ma[4] (vidhi atơu), linh hồn của người chết mới thực sự về với tổ tiên ông bà. Nhân sinh quan và thế giới quan của người Raglai thể hiện đậm nét trong lễ hội này, yếu tố biển hoà quyện với yếu tố núi rừng trong văn hoá của người Raglai và kết tinh trong vỏ vật chất của mái nhà mồ (vanẽq atơu) và các nghi thức cuộc lễ.
Khi trong nhà có người thân mất đi, nếu có điều kiện về kinh tế, người Raglai tiến hành luôn lễ bỏ ma (vidhi atơu), hoặc có thể để đến bất kỳ thời gian nào có đủ điều kiện thì thực hiện chứ không có thời gian qui định cụ thể nào cả.
Lễ bỏ ma người Raglai bao gồm 2 phần:
Phần lễ - (Caheq tahnãi samẽq cacheq atơu ỳac)- Lễ này cúng mời thần đất (Ròq atơu), thần Vhum tanah (có nơi gọi là Vhum ruya) để xin phép rước hồn ma về nhà. Mái thuyền Kagor/Kơgoq[5] được làm tại nhà thân nhân người chết hoặc nhà của người chết. Sau khi làm lễ mời thần đất Vhum tanah tại mồ, mọi người cùng quay trở về nhà. Tại đây, 3 người hành lễ tiến hành lễ tại cột chính của chủ nhà để mời ông bà tổ tiên (Mủq Cơi) chứng kiến lễ Vidhi Atơu.
Kiến trúc nhà mồ của người Raglai tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, nhân lực mà có thể khác nhau về quy mô của thuyền Kagor trên mái nhà mồ. Mái của nhà mồ lợp tranh hay lá mây. Ngày nay ở huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa, ở Ninh Thuận người Raglai còn lợp mái nhà mồ bằng tonle, ngói. Cột của nhà mồ người Raglai không quy định số cột là bao nhiêu nhưng phải có cột đầu (gưc acoq) – chôn phía trên đầu người chết, và cột chân (gưc tacai)- chôn phía chân người chết. Cột nhà mồ có thể chạm khắc, trang trí hoa văn trái mây, núi non, sông suối, các hình con vật, đặc trưng là trái bầu mẹ (cadoh viluai).
Ahòq trên mái nhà mồ có hai loại: Kagor/kagoq và kagau- một số người do không có điều kiện điền dã hay chưa đủ cứ liệu vẫn lầm tưởng chỉ có một loại ahòq trên mái nhà mồ là kagor mà thôi - Kagor và kagau có những điểm khác nhau ở cách thức lễ và cấu trúc nhưng đều với mục đích đưa linh hồn của người chết về thế giới của ông bà, về với tổ tiên ở chân trời gốc biển.
Kagor được đặt trên nóc nhà mồ trong cuộc lễ Vidhi chia tay vĩnh viễn của người chết với người thân để về thế giới ông bà tổ tiên. Mũi và đuôi con thuyền trang trí rắn garai. Cột buồm dựng ngược từ phía đáy thuyền lên với các hình trang trí hoa văn (chil paliưq) mặt trời, mặt trăng, sao, chim cu, trái bầu. hình thoi…Màu sắc trên thân tàu và cột buồm, trên các vật trang trí được nghệ nhân sử dụng màu sắc từ lá trầu giã ra trộn với củ nghệ, màu sắc từ đá, sỏi, cây củ lấy trong rừng, trên núi. Người Raglai thường dùng thành ngữ: “ahòq tanruaq rugãq atơu” hay “vòc/ahòq tanruaq rugãq vanẽq atơu” có nghĩa là con tàu quan tài hình thuyền xuôi trên mái nhà mồ có hình dáng con thuyền úp chụp.
Mái nhà mồ được làm ở bên dưới trước, chung quanh là 4 miếng ván bằng gỗ mềm màu trắng (thường làm bằng cây gòn rừng), ở hai cạnh bên có hai miếng ván để úp tạo chân đế gác một khúc cây cũng bằng loại gòn được đẽo hình trái bầu. Phía trên trái bầu đục một lỗ sâu để cắm một cọc cao gần một mét. Ở đầu cây cọc, cách khỏang 15 đến 20 phân người ta khoan hai lỗ để luồn hai cây le hoặc thanh lồ ô, tre nhỏ qua, hai đầu cây le đó được uốn cong xuống gắn vào 4 miếng ván ở hai bên tạo ra khung mái nhà mồ. Sau khi có khung, người Raglai cột thêm những đường vòng chung quanh bằng tre, nứa hoặc lồ ô và tranh được đan ngay vào mái (tương tự như cách làm nón lá của người Việt). Trường hợp nhà mồ làm thuyền Kagor thì phần từ vị trí xỏ các cây làm khung mái trở lên của cây gắn từ trái bầu mẹ chính là trụ để gắn kagor.
Đối với mái nhà mồ kagau thì cách thực hiện có khác so với kagor. Sau khi làm khung và lợp tranh cho mái nhà mồ, người Raglai làm luôn con thuyền trên mái. Hình dáng của kagau gần như hai sừng trâu lớn[6] và nối chặt với trụ từ trái bầu mẹ bên trong mái chứ không rời và để lắp ráp sau như kagor, cây trụ ở chính giữa mái nhà mồ chỉ nối từ trái bầu mẹ lên phía trên chứ không chống xuống đất như cột cái nhà sàn.
Khi tất cả các cột đều dựng sẵn nhưng hai cột đầu và cột chân vẫn chưa được dựng, trước khi rước con thuyền kagor từ nhà ra, tang chủ phải cúng cho kagor một con heo[7]. Đoàn người vừa đi vừa khóc than để rước con thuyền ra đến nhà mồ nhưng kagor chỉ được đặt bên cạnh các cây cột nhà mồ đã chôn sẵn, kagor chỉ được phép đặt trên mái nhà mồ sau khi cúng một con heo cho cột đầu và cột chân, dựng xong hai cột này xong mới đặt kagor lên mái. Riêng mái nhà mồ là kagau sau khi làm xong để tại mộ chứ không mang về nhà để rước như kagor, lễ vật được giảm 01 con heo vì không phải cúng cho kagau tại nhà như kagor.
Không như các loại ahòq ở các cuộc lễ khác do chính người trong nhà làm. Để tiến hành làm thuyền kagor hay kagau trên mái nhà mồ của người thân, gia chủ thường phải nhờ đến bàn tay của nghệ nhân Raglai. Đây là một kiểu ahòq đặc biệt từ tính chất quan trọng của nó đến chất liệu và vị trí. Các ahòq khác thì lễ vật được để lên trên mặt thuyền, ahòq khác sau cuộc lễ đặt tại bờ sông bờ suối hay bìa rừng chỉ một hai ngày là hỏng ngay. Con thuyền trên mái nhà mồ có tuổi thọ cao hơn và tuỳ theo chất lượng của vật liệu mà độ bền vững khác nhau, gỗ tạp cũng vài ba tháng, gỗ tốt hơn có thể kéo dài đến vài ba năm.
Sau lễ bỏ ma của người Raglai, hình ảnh chiếc thuyền kơgor/kagau trắng được tô điểm hoa văn ngự giữa nóc nhà mồ, thật nhỏ bé so với thiên nhiên hùng vĩ giữa màu xanh của núi rừng trùng điệp. Theo quan niệm của người Raglai, con tàu trắng này sẽ đưa linh hồn của người thân của họ trở về lại nơi xuất phát của cha ông, của tổ tiên ngày trước để chuẩn bị cho sự đầu thai sang kiếp khác.
Theo quan niệm của người Raglai, có thể đưa ra sơ đồ chức năng của ahòq và mối liên hệ giữa các thế giới như sau:

|
Lúc con người còn sống: Từ thế giới trần gian, người Raglai nhờ con tàu ahòq mang lễ vật để dâng cúng cho thần linh [mũi tên nét liền màu xanh], cho ông bà, tổ tiên hoặc sử dụng như một phương tiện đi lại (đối với Shaman Vijơu, thầy Cati) [mũi tên nét liền màu đen]. Con người được các vị thần, ông bà tổ tiên phù hộ, giúp đỡ vượt qua tai ương hoặc ban phúc lành [chiều mũi tên nét chấm màu xanh dương].
Sau khi qua đời: được người thân làm lễ bỏ ma, trên con thuyền kagor/kagau, linh hồn (vungãq) về thế giới ông bà [mũi tên nét đứt màu đỏ]. Từ thế giới này, linh hồn được ông bà, tổ tiên cho phép lên thế giới thần linh [mũi tên nét đứt màu đen]; thượng đế (aluah) ban cho hồn một hồn mới (Aluah pajieng) trở về thế giới buôn làng Raglai [mũi tên nét đứt màu đen] để đầu thai sang kiếp khác.
Để thực hành đầy đủ nghi thức các cuộc lễ vòng đời của mình, người Raglai chế tác những ahòq hoàn toàn xa lạ với môi trường tự nhiên rừng núi họ đang sống, nếu không nói rằng hoàn toàn vô nghĩa đối với tập quán, phương tiện đi lại trong vùng đồi núi miền Nam Trung Bộ. Những tập quán sử dụng những con tàu đó có lẽ là nguồn gốc tàn tích được lưu giữ trong tập quán cũ, chính những tập quán này đã tái hiện lại các giai đoạn văn hoá cổ xưa khi người Raglai có cuộc sống đã từng gắn bó với biển, hoặc ảnh hưởng của văn hoá Chăm. Khi được hỏi ý nghĩa của ahòq trong các cuộc lễ, tất cả những người già Raglai ở các vùng chúng tôi khảo sát điền dã đều tin rằng chỉ có ahòq mới giúp họ trở về “quê xưa, chốn cũ”, về thế giới của ông bà, tổ tiên.
Trong các cuộc lễ của người Raglai đã chứng kiến và qua một số tài tiệu thu thập được, tác giả Nguyễn Thế Sang đã nêu trong bài viết của mình: “Phải chăng việc sử dụng ahòq để mang lễ vật về với biển khơi, hầu tạ thần linh và tổ tiên ông bà là một biểu hiện của đời sống tâm linh, phản ánh ký ức về thời kỳ lịch sử xa xăm, từ thuở thị tộc Pinang hùng mạnh cùng với các thị tộc anh em đang sống chan hòa trên vùng đất rộng lớn trước khi vương quốc Chămpa được thành lập?”[8].
Trong cuộc sống hàng ngày của mình, người Raglai luôn hướng về núi cao rừng thẳm, nơi đã bảo bọc che chở họ bao đời nay. Thế nhưng khi cầu bái giải thiêng mọi sự yễm thư của thần độc, ó malai; khi tạ ơn thần rừng, thần núi họ lại nhờ đến biển trong những lời cầu khấn, nhờ đến biển qua biểu tượng ahòq. Đó cũng chính là những giá trị văn hoá đã được người Raglai sáng tạo trong quá trình sinh tồn và phát triển dưới lớp vỏ môi trường tự nhiên rừng núi đang sừng sững chung quanh.
Kết luận
Tìm hiểu biểu tượng ahòq trong văn hóa của người Raglai, bước đầu có thể thấy được con thuyền ahòq là một phần tri thức bản địa của người Raglai trong quá trình sinh tồn và phát triển ở vùng núi rừng ở Khánh Hòa. Trong quá trình lịch sử, biển là môi trường tự nhiên đã tác động và tạo nên những giá trị trong văn hoá Raglai, phản ánh văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, quan niệm nghệ thuật, nhân sinh quan của cộng đồng Raglai.
Bên cạnh yếu tố văn hoá núi rừng quán xuyến mọi hoạt động trong đời sống văn hoá của người Raglai, yếu tố văn hoá biển thể hiện qua biểu tượng ahòq như mục đích người Raglai cần đạt tới nguồn gốc sự vật, hiện tượng. Trong lúc yếu tố rừng núi là phương tiện để chuyển tải tín ngưỡng, phong tục, tập quán; bồi dưỡng ý thức dân tộc cho thế hệ nối tiếp thì yếu tố biển thể hiện sự khát vọng của các giá trị văn hoá đó./.
T.K.H





















