Di sản quá khứ và bản sắc văn hoá
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|
Hiện nay, vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc và những biến thể của nó đang là một trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm ở Việt Nam. Nỗi ám ảnh về bản sắc hiện diện ở khắp nơi, từ những diễn ngôn chính trị như "xây dựng nền văn hóa tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc", "hội nhập nhưng không hòa tan" cho đến các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội như xây dựng thương hiệu Việt, tự kiểm điểm tính cách dân tộc hay phê bình văn học nghệ thuật. Không thể phủ định, đây là một định hướng đúng đắn, một mối quan tâm lành mạnh của toàn xã hội khi Việt Nam ngày càng tham gia một cách toàn diện hơn vào quá trình toàn cầu hóa nhưng tự bản thân những khát vọng bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc cũng đặt ra những câu hỏi hóc búa đối với toàn xã hội, trước hết là trong việc xác định bản sắc văn hóa dân tộc và sau đó là việc ứng xử với bản sắc văn hóa đó.
Nhằm bước đầu góp phần xác lập một định hướng cho việc giải quyết những vấn đề nói trên, đầu năm 2007, Tạp chí Tia sáng đã tổ chức Tọa đàm Quá khứ và bản sắc trong đời sống đương đại ở Việt Nam với sự tham dự của một số cộng tác viên của tạp chí gồm các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ, nhà phê bình, các nhà báo: Nguyên Ngọc, Phạm Duy Hiển, Lê Đạt, Nguyễn Quang A, Chu Văn Sơn, Đỗ Lai Thúy, Phạm Xuân Nguyên, Lý Trực Dũng, Phạm Toàn, Nguyễn Hoài Nam...
1. Có hay không một bản sắc văn hóa Việt Nam?
Liệu có thể tách bạch bản sắc, những đặc tính có tính đặc thù của dân tộc Việt Nam được tích lũy qua sự vận động lịch sử và tiếp tục tác động đến đời sống đương đại với những đặc tính phát triển có thể tìm thấy ở bất kỳ một dân tộc nào trong những điều kiện địa lý và lịch sử trong cùng một trình độ phát triển? Trước những câu hỏi này, đại đa số ý kiến tham gia tọa đàm đều thống nhất khẳng định: có một bản sắc Việt. Vấn đề là xác định bản sắc. Trước đây, việc xác định bản sắc văn hóa thường tập trung trong việc khẳng định một số nét thuộc về tính cách dân tộc mà trong những điều kiện lịch sử nhất định được thể hiện rõ nét: tình yêu nước, tinh thần dũng cảm chống ngoại xâm, tình yêu lao động... Định hướng này ngày càng tỏ ra bất lực khi tiến hành thao tác đối chiếu với những dân tộc khác trên thế giới. Trong cuộc tọa đàm, đại đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất trong việc cần xác định bản sắc văn hóa không phải là một yếu tố có tính đơn thể, một đặc tính tĩnh, mà là một “kiểu” (khái niệm nhà văn Nguyên Ngọc sử dụng lại của nhà nghiên cứu Phan Ngọc). Cụ thể hơn, trong lịch sử của một dân tộc, đã hình thành nên một kiểu sống, nói như J.P.Sartre là một "kiểu lựa chọn". Theo nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, có hai yếu tố đặc biệt chi phối mạnh mẽ "kiểu lựa chọn" của người Việt: tính cách tiểu nông và Khổng giáo. Điều kiện địa chính trị, địa văn hóa cũng có những tác động đến sự hình thành nên "kiểu lựa chọn" này. Việt Nam là một nước bán đảo nằm bên rìa của khối đại lục đồng thời cũng ở ngã tư đường của những luồng di dân và những luồng ảnh hưởng văn hóa, chính vì vậy, vấn đề tồn vong chủng tộc luôn được đặt ra một cách bức thiết. Đặc điểm này đã hình thành nên một định hướng trong ứng xử dân tộc: đặt vấn đề sinh tồn lên hàng đầu trong những giá trị được ưu tiên và từ đó tạo nên một khả năng sinh tồn đặc biệt mạnh nơi người Việt. Điều này cũng đã góp phần xác lập nên một lối ứng xử mà Đào Duy Anh định danh là sự mềm dẻo, Cao Xuân Huy gọi là một thứ Thủy tính và Trần Đình Hượu giải thích là một lối ứng xử hướng đến sự linh hoạt, tránh mọi tâm lý kiền thành, cuồng tín, tránh mọi sự cực đoan. Đó là những nét mà giới nghiên cứu có thể dễ dàng thống nhất khi nhận định về bản sắc văn hóa của người Việt.





















